Sữa và chế phẩm giàu protein

Loài người dùng sữa và chế phẩm làm thức ăn ở các hoàn cảnh khác nhau: Trước tiên là sữa mẹ, đó là thực phẩm tự nhiên cho đứa trẻ sau khi ra đời, sữa bò, sữa trâu, sữa dê, sữa cừu, sữa lạc đà…

Nói chung, số lượng sữa thay đổi tùy theo tình trạng sức khỏe của con vật, còn chất lượng sữa tương đối hằng định trừ hàm lượng lipid thay đổi theo chế độ ăn.

Sữa mẹ là thức ăn tự nhiên cho đứa trẻ sau khi ra đời

Sữa mẹ là thức ăn tự nhiên cho đứa trẻ sau khi ra đời

Sữa là một loại thực phẩm rất có giá trị: một mặt đó là nguồn protein có giá trị sinh học cao, mặt khác đó là nguồn calci cuối cùng với các vitamin A, D, B2. Lượng protein trong sữa bò tươi là 3,9 g%, sữa dê tươi là l,5g%, sữa trâu 5,2 g%.

Lượng lipid trong sữa bò 4,4g%, sữa dê 4,1 g%, sữa mẹ 3 g %. Casein, lacto albumin và lacto globulin là các protein chính. Khi lượng casein chiếm quá 75% tổng số protein gọi là sữa casein (sữa bò, sữa trâu, sữa dê), khi thấp hơn gọi là sữa albumin (sữa người).

Chất béo trong sữa bò vào khoảng 3,2 – 4,5%, chất béo của sữa hoặc bơ có trên 60% acid béo no, 33% acid béo chưa no nhiều nối kép.

>>> Xem thêm: Sử dụng thực phẩm chức năng giảm béo bụng có tốt khôngNhững lợi ích mang lại từ thực phẩm chức năng

Phần lớn glucid trong sữa ở dưới dạng lactose. Lactose krill ngọt hơn saccharose nhiều. Sữa mẹ có nhiều lactose (7 g%) hơn sữa bò (2 – 5 g%). Khi vào ruột lactose tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển một số vi khuẩn làm chua sữa và hạn chế các vi khuẩn gây thối. Các lipid trong sữa ở dưới dạng nhũ tương phần lớn là các glycerid với một ít lecitin.

Sữa là một nguồn calci quí: 100 g sữa cho 120 mg calci dễ hấp thu nhờ có lactose ở ruột. Sữa tương đối nghèo sắt, vitamin c nhưng lại có một lượng riboflavin cao (0,19 mg%) và c&c vitamin A, D, ngoài ra còn có nhiều enzym. Quá trình thanh trùng sữa tiêu diệt các vi khuẩn gây bệnh cũng có thể gây giảm một ít giá trị dinh dưỡng, đặc biệt là lysin.

Đối với trẻ nhỏ không dùng sữa đặc vì có quá nhiều đường

Đối với trẻ nhỏ không dùng sữa đặc vì có quá nhiều đường

Sữa đặc là loại sữa đã làm bay hơi một phần nước và cho thêm đường. Đối với trẻ nhỏ, người ta khuyên không dùng sữa đặc vì có quá nhiều đường.

Sữa bột là loại sữa đã làm bay hơi nước sau đó sấy khô thành các hạt nhỏ. Sữa bột vì thế rất hút ẩm nên phải để nơi khô ráo. Đối với trẻ sơ sinh khi bắt buộc phải dùng sữa làm thức ăn thay thế, cần pha với nước đúng liều quy định, không loãng không đặc quá.

Từ sữa, người ta chế biến bơ, phomat, sữa chua. Bơ có 83 – 84% chất béo và các vitamin A, D, E. Mùa hè bò sữa nhận được nhiều tia tử ngoại của ánh sáng mặt trời cho nên sữa có nhiều vitamin hơn mùa đông. Bơ bị hỏng có vị đắng, mùi thôi, vón hòn và độ chua tăng.

Phomat là loại thức ăn có giá trị sinh học cao

Phomat là loại thức ăn có giá trị sinh học cao

Phomat là loại thức ăn có giá trị sinh học cao. Lượng protein và calci ở phomat cao hơn ở sữa do đó có thể coi phomat như là sữa cô đặc tự nhiên. Người ta chế biến phomat từ sữa toàn phần hay sữa đã lấy chất béo bằng cách làm chua sữa bởi streptococcus lactic hay men.

Loại phomat làm từ sữa toàn phần có 25 g % protein, 30 g% lipid và 760 mg % calci. Giá trị dinh dưỡng của phomat kém đi vì trong quá trình chế biến người ta đã cho thêm nhiều muối và mất một phần các vitamin nhóm B.

Sữa chua cũng là một nguồn thức ăn qúy. Trong lOOg sữa chua có 3,3% protein, 3,7% lipid, đặc biệt 120 mg % calci. Một số người kém tiêu hóa lactose, nên khuyên họ ăn từng lượng nhỏ. Nhiều loại pho mát chứa tyramin, một chất liên quan với protein có thể gây ngứa ở những người mẫn cảm.

Leave a comment

Your email address will not be published.


*